Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

Giải mã bí kíp xây dựng các kim tự tháp Ai Cập cổ đại


Giải mã bí kíp xây dựng các kim tự tháp Ai Cập cổ đại

Từ nhiều thế kỷ nay, nhiều nhà khoa học đã cố gắng tìm hiểu làm thế nào mà người Ai Cập cổ đại có thể dựng lên các kim tự tháp khổng lồ. Và mới đây, một kiến trúc sư tại Đại học Khoa học Na Uy (NTNU) cho rằng mình đã tìm ra câu trả lời cho bài toán cổ xưa và chưa cho lời giải này.
Bị rối trí về trọng lượng của các khối đá nên các nhà nghiên cứu thường có xu hướng xem xét 2 vấn đề: Làm thế nào mà người Ai Cập cổ đại biết chính xác vị trí đặt các khối đá nặng khổng lồ? Và làm sao mà vị kiến trúc sư trưởng có thể trao đổi những sơ đồ với độ chính xác cao tới khoảng 10.000 người thợ xây dựng không biết chữ?

Một cấu trúc nặng 7 triệu tấn
Hệ thống cấu trúc chính xác của kim tự tháp vĩ đại Khufu.
Hệ thống cấu trúc dạng lưới chính xác của kim tự tháp vĩ đại Khufu.
Đó là một trong những câu hỏi mà Ole J. Bryn - một kiến trúc sư, một phó giáo sư tại Khoa Kiến trúc và Mỹ thuật thuộc Đại học NTNU từng nghiên cứu khi ông bắt đầu khảo sát Kim tự tháp vĩ đại của của Khufu ở Giza. Kim tự tháp của vua Khufu được biết tới với tên gọi Kim tự tháp Cheops bao gồm 2,3 triệu khối đá vôi nặng khoảng 7 triệu tấn. Với độ tao 146,6m, nó giữ kỷ lục là kiến trúc cao nhất từng được xây dựng trong gần 4.000 năm.

Điều mà ông Bryn phát hiện ra hoàn toàn đơn giản. Ông Bryn cho rằng người Ai Cập đã phát minh ra các cấu trúc dạng lưới xây dựng hiện đại bằng cách tách hệ thống đo lường của cấu trúc từ chính bản thân công trình, do đó đã đưa ra phương pháp dung hòa mà ngày nay được sử dụng trong nghề xây dựng và kiến trúc.

Đỉnh tháp là chìa khóa

Ông Bryn đã nghiên cứu các sơ đồ của 30 kim tự tháp Ai Cập cổ đại nhất và phát hiện ra một hệ thống chính xác có thể giúp người Ai Cập xây tới điểm cuối cùng và cao nhất của kim tự tháp - đỉnh tháp - với một độ chính xác hết sức ấn tượng. Bằng cách khám phá và xây dựng một sơ đồ của kim tự tháp, người ta có thể hoàn tất được bộ tài liệu đề án hiện đại cho không chỉ cho 1 mà tất cả các kim tự tháp của mọi thời đại.

Theo ông Bryn, ngay khi người kiến trúc sư nhận biết được các không gian chính của kim tự tháp, anh ta có thể vạch ra được dự án xây dựng như có thể làm với một công trình xây dựng hiện đại nhưng với các phương pháp đo lường và xây dựng lấy từ người Ai Cập cổ đại.

Trong một bài báo khoa học đăng hồi tháng 5.2010 trên Tạp chí Nghiên cứu Kiến trúc Bắc Âu, ông Bryn đã thảo luận các vấn đề có thể lý giải việc xây dựng hàng loạt các kim tự tháp Ai Cập bằng cấu trúc dạng lưới xây dựng và không chỉ riêng việc xây dựng mà cả điểm khởi đầu của bản phân tính.
Một sơ đồ mới

Nếu như những nguyên tắc theo bản vẽ của ông Bryn là đúng, thì các nhà khảo cổ học sẽ phải có một "sơ đồ" mới mô tả các kim tự tháp không phải là một tổ hợp"các khối đá nặng với cấu trúc xa lạ", mà hơn thế nó là những cấu trúc chính xác đến mức kinh ngạc.

Những phát hiện của Ole J. Bryn sẽ được trình bày và giải thích tại triển lãm Điểm đỉnh tháp tổ chức tại thành phố Trondheim (NaUy) từ 13.9 đến 1.10.2010.
Ông Ole J. Bryn từng là một kiến trúc sư và hiện nay đang là Phó Giáo sư giảng dạy tại Khoa Kiến trúc và Mỹ thuật thuộc Đại học  Khoa học Nauy ở Trondheim, Na Uy.

Công trình phát triển các lý thuyết  về cấu trúc dạng lưới xây dựng được sử dụng cho các kim tự tháp Ai Cập của ông Bryn có sự hợp tác của Tiến sĩ Michel Barsoum, Giáo sư danh dự tại Khoa Khoa học vật liệu và Xây dựng tại Đại học Drexel, Philadelphia (Mỹ).
Thanh Bình (Theo Sciencedaily)

10 BÍ ẨN ÍT BIẾT VỀ KIM TỰ THÁP AI CẬP

10 BÍ ẨN ÍT BIẾT VỀ KIM TỰ THÁP AI CẬP

Phải nói ngay rằng đã hàng nghìn năm trôi qua nhưng những gì liên quan đến kim tự tháp Ai Cập vẫn là thách thức đối với nhân loại bởi chúng chứa đựng vô vàn huyền bí, 10 bí ẩn dưới đây được xem là những khám phá mới nhất trong số này liên quan đến các công trình cổ đại nói trên vừa được tạp chí Khoa học khám phá (LV) của Mỹ công bố.
1. Lời nguyền Pharaoh

Lời nguyền Pharaoh (Curse of the Pharaohs) là câu nói khá quen thuộc, thậm chí đã được người ta dùng để đặt tên cho những bộ phim, tác phẩm văn học hay các nghiên cứu liên quan đến tháp Ai Cập . Theo lời nguyền này thì những ai mở hầm mộ của Pharaoh Tuttankhanum sẽ bị liên lụy đến tính mạng. Điều này đã từng xảy ra đối với Lord Camanrvon và các thành viên khác trong đoàn thám hiểm. Nhiều người cho rằng bí ẩn trên không phải giải thích bởi trong hầm mộ có chứa nhiều loại nấm độc và khí gas nguy hiểm. Thực tế chỉ có 8/58 trường hợp phát hiện ra hầm mộ tử vong trong vòng vài chục năm trở lại đây. Ông Carter người đứng đầu một nhóm thám hiểm, người được xem là mục tiêu chính của "lời nguyền" đã sống tới 16 năm sau khi tham gia thám hiểm và mở hầm mộ. Thực tế,  lời nguyền Pharaoh còn chứa đựng nhiều điều mang tính ngẫu nhiên, và cả thổi phồng nên vốn đã bí ẩn lại càng thêm khó hiểu.
2. Về những người nô lệ Israel
Nhiều lời đồn cho rằng người Ai Cập cổ đại đã tuyển dụng những người Israel để làm nô lệ nhưng theo sử sách thì không hề có chuyện này, chưa từng có bằng chứng cho thấy người Ai Cập cổ đại đã bắt những tộc người khác làm nô lệ cho mình và cũng không hề có bằng chứng về khảo cổ cho thấy người Hebrews sinh sống ở Ai Cập hoặc ở sa mạc. Ngoài ra, việc trốn chạy của hàng triệu người nếu có sẽ làm cho nền kinh tế Ai Cập suy sụp nhưng thực tế nền kinh tế Ai Cập không chỉ phát triển bình thường mà còn đạt tới đỉnh cao như đã được ghi nhận.
3. Tháp Ai Cập là do nô lệ xây?
Giả thiết tháp Ai Cập là do nô lệ xây được dư luận tranh cãi sau khi nhà sử học Hy Lạp Herodotus công bố báo cáo về khảo cổ. Theo báo cáo này người ta đã tìm thấy nhiều hầm mộ của những người công nhân dựng tháp được mai táng cạnh tháp Giza. Khi thông tin trên được công bố, dư luận cho rằng nếu đúng như vậy thì những người thợ xây dựng là những người được nhà vua ưu ái cho xây dựng mộ cạnh kim tự tháp. Bằng chứng,  trong hầm mộ người ta còn tìm thấy cả xương động vật, thức ăn cho những người xây dựng và như vậy những người xây dựng là nhóm người có tay nghề, kinh nghiệm cao, thuộc nhóm "làng nghề" của Ai Cập. Và ngay cả trong kinh thánh cũng không đề cập hoặc những bộ phim tấn của Hollywood cũng không hề thấy nói đến những tình tiết trên.
4. Các Pharaoh đã giết người hầu để chôn theo?
Khi các Pharaoh qua đời họ không hề giết người hầu để chôn theo như lời đồn đại, chỉ trừ 2 Pharaoh thuộc triều đại thứ nhất đã làm, chính sự việc này mà 300 Pharaoh khác của Ai Cập bị mang tiếng. Thậm chí những Pharaoh của triều đại cuối cùng của Ai Cập còn cho rằng để cho những người hầu sống  còn có lợi hơn là bắt họ chết mà chỉ chôn theo hình nhân với nhà vua sang thế giới bên kia.
5. Bí ẩn về kim tự tháp
Sau khi mở nhiều hầm mộ và nghiên cứu nội thất, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều điều trái ngược   với đồn thổi. Ví dụ, sau khi khai quật một số hầm mộ tại tháp Giza cho thấy bên trong đều rất đơn giản. Phần lớn các kim tự tháp cổ có niên đại trên 4.000 năm tuổi, được xây dựng bằng đá vôi, có một số nơi bằng các cột đá sơn mài đỏ hoặc trắng. Sơn gốc và những ký tự chìm vẫn nhìn thấy bằng mắt thường. Vật liệu dạng xi măng và đá được xem là chất liệu chính cho nội thất bên trong các  hầm mộ này.
6. Chữ tượng hình
Chữ tượng hình (Hieroglyphs) của người Ai Cập chứa đựng rất nhiều bí ẩn, nhiều giả thiết cho rằng người Ai Cập cổ chính là những người phát minh ra thứ ngôn ngữ nói trên. Cũng có giả thiết cho rằng nguồn gốc của chữ này được những người Tây Á mang đến Ai Cập khi đến thôn tính vùng đất này. Một bí ẩn khác liên quan đến chữ tượng hình là các ký tự, hình ảnh nói về những con vật với các chi tiết cơ thể rời. Người ta cho đây là những ký tự của lời nguyền, mang tính tín ngưỡng. Tuy nhiên, cho đến tận năm 1798, sau khi phát hiện ra hòn đá Rosatta Stone thì ngôn ngữ tượng hình này đã được giải mã một phần,  các nhà học giả tin rằng đây chỉ là những minh họa chứ không phải là một chữ cái hoàn chỉnh.
7. Thuyền mặt trời nói lên điều gì ?
Nhiều người cho rằng những thứ có từ truyền thuyết Ai Cập là có thực, điều này chưa hẳn chính xác. Tuy nhiên, nhờ những phát hiện mới đã giúp khoa học hiểu sâu thêm về nền văn minh của người Ai Cập. Ví dụ sự kiện về Thuyền mặt trời (Solar Boat) tìm thấy tại tháp Great Paramid. Nhiều giả định cho rằng chiếc thuyền nói chết cho phép các Pharaoh quá cố hỗ trợ Thần mặt trời Ra ( Sun-god Ra) tiến hành chiến tranh với Quỷ bóng đêm Apep. Nhờ chiếc thuyền này, mỗi đêm thần Ra có thể giao tranh với Quỷ Apep và đến khi mặt trời mọc lại quay trở lại về trời.
8. Về các đồng minh ngoài trái đất
Đến nay vẫn có giả thiết rằng người Ai Cập cổ đại từng tiếp cận với người ngoài hành tinh, thậm chí có người còn cho rằng các kim tự tháp Ai Cập do người ngoài hành tinh xây dựng và là thành tựu siêu nhiên, thậm chí những ngôn ngữ tượng hình trong các hầm mộ cũng là của những người ngoài hành tinh tạo nên. Giả thiết trên dựa một phần vào chính tài liệu của những người Ai Cập cổ đại. Đứng trên bình diện khoa học, đặc biệt là lĩnh vực toán học, thì tháp Great Pyramid ở Giza có cấu trúc vượt quá khả năng của những nhà thiên văn, toán học lẫn giới kiến trúc hiện đại mặc dù nó đã ra đời cách đây trên 4.000 năm và tính đến cuối thế kỷ thứ 19 chưa hề có kiến trúc nào sánh kịp với Great Pyramid về kỷ lục chiều cao. Tất cả những giả thiết nói trên chỉ có thể sáng tỏ một khi các ký tự, hình ảnh liên quan có trên tháp, hầm mộ được giải mã một cách đầy đủ.
9. Nỗi ám ảnh sợ chết của người Ai Cập cổ đại
Qua nghiên cứu những bí ẩn liên quan đến kim tự tháp, xác ướp, tượng nữ thần vv... giới khảo cổ dễ dàng đi đến kết luận, người Ai Cập cổ đại bị ám ảnh bởi nỗi sợ chết. Bằng chứng, phần lớn những người Ai Cập cổ thường mai táng người quá cố theo phong cách riêng, rằng những người quá cố đã trải qua một cuộc sống đầy vinh quang và mãn nguyện. Trong các hầm mộ còn có các hình ảnh, ký tự nói về cảnh săn bắn và làm nông nghiệp. Ngoài ra các đồ vật trang trí mộ phần lớn là những món đắt tiền được trang trí rất đẹp, điều đó chứng tỏ họ còn muốn duy trì một cuộc sống mới trong tương lai một cách nhàn hạ,  không vất vả. Cách ướp xác là cách để giữ cơ thể giống như khi còn sống điều đó có thể kết luận người Ai Cập cổ đại bị ám ảnh bởi nỗi lo sợ chết, chứ không phải cuộc sống sau cái chết mang lại cho họ những tốt lành như giả định.
10. Nữ hoàng Cleopatra là người phụ nữ thông minh, xinh đẹp
Cleopatra VII Pharao, Nữ hoàng cuối cùng của đất nước Ai Cập cổ đại thường được ví như một danh nhân văn hóa, nổi tiếng bởi sắc đẹp quyến rũ, nguồn cảm hứng cho nhiều nhà văn, đạo diễn điện ảnh nổi tiếng của thế giới như Shakespearc hay L. Mankiewics. Ngoài ra bà còn được đúc trên mặt đồng tiền kim loại với vẻ mặt tương phản, mũi lớn, cằm nhô, môi mỏng chứ không đẹp như đồn thổi. Nhưng dù thế nào chăng nữa, Nữ hoàng Cleopatra vẫn được xem là người phụ nữ đầy tự tin, thông minh và có vẻ đẹp hình thể quyến rũ.
Duy Hùng
(Theo LV-5/2012)


Bí ẩn quanh kim tự tháp lâu đời nhất ở Ai Cập


Bí ẩn quanh kim tự tháp lâu đời nhất ở Ai Cập

Được xây dựng tại Saqqara khoảng 4.700 năm trước, kim tự tháp bậc thang Djoser là kim tự tháp đầu tiên của người Ai Cập.
Djoser đôi khi được đánh vần là Zoser, (mặc dù thực tế ông được gọi là Netjerykhet) là vị vua triều đại thứ ba của Ai Cập.
Người lập kế hoạch xây dựng kim tự tháp là Imhotep, tể tướng của triều đại sau đó đã được tôn sùng như một vị thánh nhờ các đóng góp của mình.
Kim tự tháp có nguồn gốc ban đầu là một lăng mộ Mastaba - một kiến trúc mặt bằng hình bình hành, trải qua hàng loạt công việc xây dựng đã hình thành một kim tự tháp cao 60 mét với sáu tầng được xây chồng lên nhau.
Việc xây dựng kim tự tháp cần 11,6 triệu mét khối đá và đất sét. Các hầm bên dưới kim tự tháp tạo nên một đường dẫn dài khoảng 5,5km.
Kim tự tháp bậc thang Djoser là kim tự tháp lâu đời nhất Ai Cập.
Kim tự tháp bậc thang Djoser là kim tự tháp lâu đời nhất Ai Cập.

Khu liên hợp

Kim tự tháp nằm ở trung tâm khu liên hợp rộng khoảng 15 hecta, được bao quanh bởi một tường đá vôi gồm 13 cánh cửa giả cũng như lối đi thực sự ở phía đông nam.
Một ngôi đền nằm ở phía bắc của kim tự tháp dọc với tượng đài của vị vua. Tượng đài được bao quanh bởi kiến trúc đá nhỏ được biết đến như là “serdad”. Phía nam của kim tự tháp là một cung điện được rào chắn xung quanh bởi một bệ thờ và các tảng đá.
Rất nhiều các tòa nhà mặt tiền được xây dựng trong khu liên hợp, bao gồm một loạt nhà thờ nhỏ ở phía đông nam cũng như các sảnh đường bắc và nam ở phía đông kim tự tháp. Các cấu trúc phục vụ cho mục đích tôn giáo.
Ở phía đông nam của khu liên hợp, cạnh các nhà thờ nhỏ là một cung điện có lẽ được xây dựng dành cho vua tổ chức các lễ hội Hed - Seb ở thế giới bên kia.
Ở phía nam cuối của khu liên hợp là một lăng mộ huyền bí với một nhà thờ nhỏ. Nó gồm hàng loạt các đường hầm bắt chước kiểu dáng các đường hầm được tìm thấy phía dưới kim tự tháp. Điều gì được chôn giấu ở đó là một điều bí mật.
Một nhà thờ nhỏ ở cung điện Hep-Sed ở kim tự tháp bậc thang Djoser
Một nhà thờ nhỏ trong cung điện Hep-Sed ở kim tự tháp bậc thang Djoser

Lăng mộ của Vua

Bên dưới kim tự tháp bậc thang là một dãy hỗn tạp các đường hầm và căn phòng, trung tâm là một hầm sâu 28 mét ở dưới đáy là lăng mộ của vua Djoser.
Các công việc bảo tồn gần đây ở lăng mộ phát hiện các mảnh quan tài bằng đá granit của vị vua và tên của các nữ hoàng vẫn còn có thể đọc được.
Nhà Ai Cập học Zahi Hawass, nguyên giám đốc hội đồng di sản tối cao Ai Cập trong một đoạn video vào năm 2009 nói về công việc bảo tồn ở kim tự tháp: “Kim tự tháp bậc thang là kim tự tháp duy nhất trong triều đại cổ mà có mười một trong số các con gái của vua được chôn bên trong".
Hầm mộ ban đầu có thể được trang trí bởi khối đá vôi chứa các ngôi sao năm cánh tạo thành một trần đầy sao. Tuy nhiên, không biết vì lý do gì, việc trang trí này bị những người xây dựng dỡ bỏ thay vào đó là một phòng chôn bằng đá granit đơn giản hơn.

Đường hầm và cung điện dưới mặt đất

Hai lối đi dẫn tới hầm ngầm và chia ngả thành ba hướng. Ở đó chứa ba phòng trưng bày, một hầm nhỏ đặc biệt chứa đồ ăn, và một phòng chưa hoàn thiện có thể đã được xây dựng làm cung điện dưới mặt đất của thế giới bên kia.
Ba cánh cửa giả chứa các họa tiết cho thấy sự sùng bái tôn giáo của vua. Buồng được trang trí với hàng nghìn gạch vuông bằng sứ xanh bắt chước hình vẽ chiếu đan bằng sậy trong cung điện của nhà vua ở Memphis. Căn phòng ở bên dưới kim tự tháp này được hoàn thành một cách nhanh chóng.
Một hầm khác, bắt đầu ở phía bắc của kim tự tháp, chứa 40.000 bát đá, nhiều trong số đó thuộc về tổ tiên của vua. Các quan tài và các phần của hài cốt cũng được tìm thấy.

Sự bảo tồn ngày nay

Kim tự tháp bậc thang là một công trình không bền chắc với những dự đoán cho thấy rằng nếu không có công việc bảo tồn thì các hầm bên dưới kim tự tháp có thể sập và tượng đài có thể mất đi một phần đáng kể trong một vài thập kỉ nữa.
Người Ai Cập đã bắt đầu nỗ lực bảo tồn di sản nhiều năm trước và gần đây Cintec, một công ty xây dựng Anh đã được huy động để hỗ trợ nỗ lực bảo tồn. Họ sử dụng các túi khí lớn để nâng đỡ mái kim tự tháp trong khi thực hiện các công việc sửa chữa cấu trúc kim tự tháp.

Sự vinh danh

Với việc xây dựng kim tự tháp bậc thang, Imhotep cuối cùng được sùng bái như một vị thánh. Nhà Ai Cập học Marc Van De Mieroon viết trong cuốn sách “Lịch sử của Ai Cập cổ đại” của mình rằng vua Djoser dành cho Imhotep một đặc ân, cho phép tên và danh hiệu của ông được khắc vào nền tượng đài vua.

Ai Cập huyền bí - Giải mã kim tự tháp và lăng mộ


Ai Cập huyền bí - Giải mã kim tự tháp và lăng mộ


Nền văn minh Ai Cập cổ đại với những câu chuyện kỳ bí luôn là “thỏi nam châm” có sức hút mãnh liệt với con người...

Có thể nói, kim tự tháp là một trong những công trình vĩ đại mà đến nay, khoa học hiện đại vẫn chưa lý giải hết được quá trình xây dựng nó. Đó là chưa kể đến những truyền thuyết xung quanh lăng mộ của các Pha-ra-ông bí ẩn luôn gắn liền với các kim tự tháp.
 
Để giải mã được một phần những bí ẩn của nền văn minh Ai Cập cổ, chúng mình sẽ “đột nhập” kim tự tháp thử một phen nhé!
 

 
Kim tự tháp là lăng mộ của các Pha-ra-ông được cho là nơi chôn giấu của cải, vật dụng khi còn sống của Pha-ra-ông. Đối với những tên trộm sa mạc, nơi đây chẳng khác gì mỏ vàng. Vì vậy, để bảo vệ sự yên bình cho Pha-ra-ông cũng như an toàn cho số của cải chôn theo, dưới thời vua Tutankhamun, các Pha-ra-ông thường được chôn sâu dưới lòng đất.
 
Người Ai Cập cổ có niềm tin mạnh mẽ về cuộc sống vĩnh hằng sau khi chết. Thậm chí, họ còn cho rằng đó mới là lúc bắt đầu cuộc sống thực sự của một con người. Vì vậy, các lăng mộ thường được chôn theo mọi thứ của Pha-ra-ông lúc còn sống để ngài có thể tiếp tục sống cuộc sống mới ở kiếp sau. Không kể vàng bạc, trang sức… họ đem chôn mọi vật dụng dùng hàng ngày của ngài, thậm chí là cả một cái… bô! Có thể, chú mèo của Pha-ra-ông cũng sẽ được ướp xác để tiếp tục bầu bạn với chủ nhân của mình dưới suối vàng.
 
 


Hầm mộ của nhà vua luôn là kho tàng đối với bọn đào mộ trộm.
 
Các Pha-ra-ông còn được chôn cùng nhiều hình nộm đầy tớ trong lăng mộ của mình. Các quan tư tế cho rằng các hình nộm này sẽ phục vụ Pha-ra-ông ở kiếp sau. Nhưng riêng những vị Pha-ra-ông chết trẻ, họ sẽ được chôn cùng người sống. Đó là những người đầy tớ bị “đánh vào đầu” để “đi theo nhà vua”. Người Ai Cập cổ cho rằng đó là minh chứng của sự trung thành.
 
Công nghệ hiện đại đã mô phỏng được khuôn mặt vua Tut dựa trên xác ướp của ngài.
  
Một số người tin rằng vị Pha-ra-ông trẻ Tutankhamun đã bị sát hại bởi chính bác ruột của mình - Ay - người mà sau này đã lên ngai vàng thay ngài. Nhưng thực tế thì không phải vậy. Các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều thương tổn đằng sau gáy của xác ướp Pha-ra-ông Tut (tên gọi khác của Tutankhamun). Họ đặt ra giả thuyết có khả năng ngài đã gặp tai nạn trong một chuyến đi săn.
 
Nhưng đến năm 2005, với công nghệ chụp X-Quang CT hiện đại, đội nghiên cứu đã phát hiện ra ngài từng bị gãy chân và đây chính là nguyên nhân dẫn đến cái chết đầy tranh cãi của vị Pha-ra-ông trẻ tuổi. Thông thường, một người khó lòng "từ giã cõi đời" chỉ vì chiếc chân gẫy của mình nhưng dưới "bàn tay" của bệnh sốt rét, đây sẽ là một câu chuyện khác. Theo kết quả xét nghiệm ADN từ mẫu các xác ướp có trong lăng mộ, Pha-ra-ông Tut đã nhiễm vi-rút sốt rét và khiến chuyện gãy chân của ngài trở thành mối hiểm họa thực sự, có ảnh hưởng trực tiếp đến mạng sống.
 
Chiếc mặt nạ bằng vàng nặng 11 kg nổi tiếng của vị Pha-ra-ông trẻ tuổi.

Ngay cả quan tài của Pha-ra-ông cũng được làm bằng vàng. Quả thực đây là một kiệt tác nghệ thuật được chạm trổ rất tinh xảo.

Hình ảnh các nhà khảo cổ học khi tìm thấy xác ướp Pha-ra-ông Tut.
 
Vào những năm 1800, nhiều người tin rằng các kim tự tháp chứa đựng một sức mạnh vô hình nào đó khi nó có thể bảo quản, gìn giữ xác của Pha-ra-ông nguyên vẹn hay thậm chí có thể làm sắc lại lưỡi dao đã cùn.
 



 
Các kim tự tháp thường được ví như những chiếc máy tính làm từ đá, đài thiên văn thời cổ đại dành cho các nhà thiên văn học và chiêm tinh học. Đứng trên kim tự tháp, người Ai Cập cổ có thể tính tương đối chính xác chu kỳ của một ngôi sao, từ đó suy ra thời gian của các vụ mùa, thời gian hoàn thành các công trình xây dựng lớn...
 
Đối với người Ai Cập cổ, hình ảnh kim tự tháp còn biểu trưng cho quyền lực tuyệt đối của nhà vua và cũng là cách nhà vua đến với thần Ra (Thần Mặt Trời - vị thần quan trọng nhất trong tín ngưỡng Ai Cập cổ đại) sau khi qua đời. Điều này giống như việc quan niệm "lên thiên đường" của đạo Thiên Chúa.
 
Các kiến trúc sư của vua Napoleon (Pháp) từng nói rằng, nếu sử dụng khối lượng đá dùng để xây nên kim tự tháp lớn Giza thì họ có thể xây dựng được một bức tường vòng quanh nước Pháp.
 
Vua Napoleon đã từng đi vào kim tự tháp Ai Cập. Lúc trở ra, người ta trông thấy sắc mặt ông vô cùng nhợt nhạt, đi đứng cũng không vững. Mặc dù Napoleon từ chối nói về điều này nhưng theo một số người thì có thể ông đã nhìn thấy trước tương lai của mình.
 
Napoleon từng có chuyến "du hành" vào kim tự tháp.
 
Những người Hy Lạp cổ cho rằng các kim tự tháp được xây dựng trong khoảng thời gian trên 10 năm với sự góp sức của 10.000 nô lệ. Tất cả số nô lệ này đều bị đối xử rất tàn tệ. Nhưng thực tế thì không phải vậy. Chúng được xây dựng bởi 25.000 người đàn ông hay thậm chí là hơn cả thế. Những người này được đối xử rất tốt. Họ được cung cấp thịt bò và nước uống, và mỗi người chỉ bị buộc phục vụ cho việc xây kim tự tháp trong 5 năm. Đối với một số người, việc tham gia xây kim tự tháp là cả một sự tự hào to lớn.
 
Bên trong kim tự tháp là dày đặc các cơ quan, mật thất với đường đi lắt léo cùng nhiều cạm bẫy.
 
Ảnh mô phỏng việc xây dựng kim tự tháp của các nô lệ thời đó.

Tìm hiểu về Kim Tự tháp

Tìm hiểu về Kim Tự tháp
Kim Tự tháp ở Ai Cập Chúng ta quen dịch từ paramid của tiếng Anh hay paramide của tiếng Pháp là Kim Tự tháp (ngọn tháp hình chữ ‘kim’ 金) là vì hình dáng của loại tháp này có nét hao hao tự dạng này chứ hoàn toàn không mang một tư tưởng nào liên quan đến ngữ nghĩa của nó. Từ paramid có nguồn gốc Hy Lạp (chứ không phải Ai Cập), dùng để chỉ những cấu trúc được lắp ghép bởi các mặt tam giác lại với nhau trên một đáy hình vuông hay chữ nhật. Cũng như nhiều công trình kiến trúc cổ đại khác trên thế giới, Kim Tự tháp gắn liền với tín ngưỡng và tôn giáo. Kim Tự tháp thuở xa xưa chỉ là gò mộ cho các pharaohs, sau đó cách tân dần thành hình thái quen thuộc ngày nay. Tiến trình cách tân đó để lại một số ‎dạng Kim Tự tháp khác nhau sẽ đề cập đến trong loạt bài này. Chúng ta sẽ thấy ở Ai Cập có loại Kim Tự tháp bậc thang mà các nhà khoa học ngày nay vẫn chưa l‎‎í giải thuyết phục vì sao vùng Trung Mỹ cũng có loại hình Kim Tự tháp này. Người Ai Cập cổ đại tin có một cuộc sống khác sau khi chết, cuộc sống mới mà ai cũng mơ ước tới là cuộc sống trên trời cùng các thần thánh. Các pharaohs không là ngoại lệ, các đấng quân vương này thật sự khao khát hội ngộ chư thần ở trên trời. Nhưng khác với các tầng cấp xã hội khác, các pharaohs chuẩn bị rất kỹ cho con đường này: Kim Tự tháp. Ý nghĩa của nó được trình bày khá chi tiết trong bộ sách tối cổ “Tử Thư Ai Cập” (Egyptian Book of Death) cách nay 3400-3500 năm, tức vào khoảng năm 1400-1500 trước Công Nguyên. Thực ra cuốn sách này chỉ biên thuật lại những bản đá chạm trong các Kim Tự tháp dùng để hướng dẫn các vong linh pharaohs theo đó mà đi về với thần linh. Những bia kí‎ này được các nhà Ai Cập học gọi là sách Kim Tự tháp. Họ tin rằng trên bầu trời có những ngôi sao dẫn đường và vong linh pharaohs theo đó mà đi. Chính vì thế nên các Kim Tự tháp luôn tuân theo một hướng nhất định và bố trí trên một địa bàn nhất định. Cho đến nay người ta thấy các quần thể Kim Tự tháp luôn nằm về tả ngạn sông Nil (trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi), làm chúng ta liên tưởng sự bố trí các lăng tẩm Triều Nguyễn cũng tương tự như thế bên bờ sông Hương. Có khác chăng khu lăng tẩm triều Nguyễn nằm vùng thượng du, còn Kim Tự tháp ở hạ nguồn. Tử Thư Ai Cập cũng mô tả các giai đoạn linh hồn phải trải qua sau khi chết cũng khá tương đồng với Tử Thư Bôn giáo Tây Tạng, loại kinh sách mà sau này Tịnh Độ Tông của Phật Giáo nương theo làm các lễ tuần thất. Các giai đoạn sau cái chết này có liên quan mật thiết đến cách bố trí nội thất của Kim Tự tháp. Trong lối bố trí mà các phần sau sẽ nói chi tiết cho ta thấy các Kim Tự tháp luôn có đường hầm dẫn đến nơi quàn thi hài đã ướp của các pharaohs và bên ngoài có đền thờ riêng như miếu thờ ở khu lăng mộ triều Nguyễn (khu tẩm và khu miếu thờ). Trang trí bên trong có sơ đồ bầu trời để các vị pharaohs không ‘lạc lối’ trong chuyến du hành cuối cùng. Cho nên có thể nói Kim Tự tháp là một biểu trưng rõ nét của khoa phong thủy Ai Cập có trước Trung Hoa mấy ngàn năm. Rất có thể những kiến thức này đã lan truyền qua Hy Lạp (trước Công Nguyên Hy Lạp có thời kỳ đô hộ Ai Cập) và theo chân người Aryan đi vào Ấn Độ. Xuất phát từ Ấn Độ theo chân Phật giáo và Mật giáo vào Tây Tạng, sau đó là Trung Hoa. Nhiều khả năng nền văn hóa Ai Cập Cổ đại truyền đi khắp thế giới như thế, chứ không phải du nhập từ các nền văn minh khác về. L‎‎í do là niên đại của các Kim Tự tháp rất cổ, cổ hơn rất nhiều so với sự khởi sinh các nền văn minh khác trên thế giới. Theo khảo cổ học, Kim Tự tháp xuất hiện rất sớm, chẳng hạn như Kim Tự tháp Djoser trước Công nguyên 2620 năm tức cách nay gần 5.000 năm. Việc xây dựng Kim Tự tháp chứng tỏ Ai Cập thời đó đã có cơ cấu tổ chức xã hội cao, cấu trúc thượng tầng chính trị và pháp luật đã thay thế những quy ước xã hội. Nói khác đi xã hội Ai Cập thời đó đã vượt qua khái niệm văn hóa trở thành nền văn minh thật sự. Vào thời kỳ này chưa có chứng cứ khảo cổ đáng tin cậy về sự xuất hiện nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ ngoài các truyền thuyết. Các Kim Tự tháp trên thế giới 1.- Kim Tự tháp ở Hy Lạp. Sự có mặt của Kim Tự tháp ở Hy Lạp không có gì đáng ngạc nhiên vì một thời kỳ cổ đại Ai Cập bị nước này xâm chiếm. Cho đến nay người ta phát hiện được trên đất Hy Lạp hơn 16 Kim Tự tháp, niên đại cổ nhất là Kim Tự tháp Hellinikon. Kim Tự tháp Hellinikon nằm ở rìa Tây Nam bình nguyên Argolid, gần phát nguyên dòng sông Erasinos (nay gọi là sông Kephalari). Ngày 9 tháng 2 năm 1995, Viện Hàn Lâm Athens công bố kết quả nghiên cứu Kim Tự tháp này có niên đại vào khoảng năm 2720 trước Công Nguyên. Nhiều nhà nghiên cứu có nghi vấn về niên đại này vì nó có trước cả Kim Tự tháp Lớn Cheops hay sao? Thời pharaoh Cheops xứ Ai Cập rất hung mạnh và chưa có chứng cứ sự giao lưu với Hy Lạp đủ để mang văn hóa Kim Tự tháp qua xứ này. 2.- Kim Tự tháp ở Sudan: Ngoài Ai Cập Sudan là nước có nhiều Kim Tự tháp nhất (gần 220 tháp) nằm tập trung ở các vùng el-Kurru, Gebel Barkal, Nuri và Meroe. Điều này cũng dễ hiểu vì lịch sử cổ đại của Au Cập có nhiều giai đoạn thống trị Sudan. Được quan tâm nhiều nhất là quần thể Kim Tự tháp ở Meroe trong đó có đền thờ thần Amun. 3.- Kim Tự tháp ở Thổ Nhĩ Kỳ: thực ra chỉ là lăng mộ và một ngôi đền thờ vua Antinochus I xây trên chóp một ngọn núi Kahta cao 2150 m. Kiến trúc này xây dựng vào năm 80-72 trước Công nguyên. Phần lăng mộ do con người kiến tạo chỉ cao 10 m, có dáng dấp Kim Tự tháp nấc thang chóp bằng. 4.- Kim Tự tháp ở Java, Indonesia: đó là đền Candi Sukuh có dáng dấp Kim Tự tháp, một thời nơi này là Trung Tâm Phật Giáo xứ Vạn Đảo, nhưng sau đó hoang phế vì Đạo Hồi chiếm ưu thế. Điều kỳ lạ là tại đây có biểu tượng con rắn 2 đầu giống như thần vật Quetzalcoatl ở Châu Mỹ. Bí ẩn này làm đau đầu các nhà nghiên cứu. 5.- Kim Tự tháp ở Tahiti: thuyền trưởng Cook có nói về Kim Tự tháp này khi ghé thăm đảo. Đáng tiếc hiện không còn nữa, chỉ sót lại vài hàng cột. Đây chỉ là hình vẽ trong cuốn The Voyage of McDuff (Chuyến Du hành của McDuff), 6.- Kim Tự tháp ở phía Tây đảo Samoa: là loại Kim Tự tháp hình sao (đáy có 5 đỉnh như ngôi sao) hay còn gọi là gò mộ Pulemelei, được xây dựng bằng đá ba-zan. Công trình này cao 12 m, kích thước đáy 60×65 m, niên đại khá muộn khoảng 1100-1400 sau Công nguyên. Đây là công trình lớn nhất của người Đa Đảo (Polynesia). 7.- Kim Tự tháp ở Trung Hoa: ở Trung Hoa có một số gò mộ được gọi là Kim Tự tháp, lần đầu tiên được phát hiện là Kim Tự tháp Trắng ở núi Tần Lĩnh, gần thành phố Tây An, vào năm 1945. Người phát hiện là phi công không lực Mỹ, James Gaussman, đã chụp ảnh Kim Tự tháp này. Nhưng ảnh tư liệu đó không công bố suốt non nửa thế kỷ vì bị liệt vào tài liệu quân sự. Hai năm sau, Đại tá Maurice Sheahan nghe tin đã tìm kiếm và chụp lại, sau đó công bố trên tờ New York Times, số ngày 28 tháng 3 năm 1947. Nổi tiếng nhất là gò mộ của Tần Thủy Hoàng. Bên trong ngoài các tượng đất nung quân lính, trên vòm khu quàn (gọi là tẩm) có dát châu ngọc theo vị trí các tinh tú trên bầu trời, rất trùng hợp với mô thức Kim Tự tháp Ai Cập. 8.- Kim Tự tháp ở Nhật Bản: là cụm lăng mộ thời Kofun (300-710 sau Công nguyên). Lớn nhất là lăng mộ của Daisen Kofun, cao 35 m và có chiều dàu khó tin 486 m. Đặc điểm của gò mộ này tuy có bậc thang và nhỏ dần khi lên cao như Kim Tự tháp nhưng nhìn từ trên cao giống chiếc chìa khóa. Chẳng biết có nên xếp vào loại hình Kim Tự tháp hay không, nên chỉ nêu ra đây để giới thiệu. 9.- Kim Tự tháp ở Belize: nằm cách thành phố Belize, 30 dặm về hướng Bắc. Nói đúng hơn đây là một quần thể Kim Tự tháp với khoảng 500 công trình, trên diện tích chừng 1,8 dặm vuông, của người thổ dân Mayas châu Mỹ dùng thờ thần Mặt trời. Nói không ngoa khu quần thể này là một thành phố tín ngưỡng tương tự như Thánh địa Mỹ Sơn ở Việt Nam hay Đế Thiên Đế Thích ở Cam-bốt. Các Kim Tự tháp nơi này đều xây theo dạng bậc thang, nổi tiếng trong quần thể này là Kim Tự tháp Altun-Ha nằm cao hơn mặt nước biển đến 6 dặm. Kim Tự tháp Altun-Ha có nhiều tác phẩm điêu khắc bằng đá qu‎í, đáng chú í nhất là tượng cái đầu thần Mặt trời Kinisch Ahau bằng ngọc thạch nặng hơn 4kg. Xin nói them người Ai Cập cũng thờ thần Mặt trời gọi là thần Ra, vị thần này rất được coi trọng và có rất nhiều hóa thân tùy theo từng thời điểm trong ngày. 10.- Kim Tự tháp ở El Salvador: là một cụm Kim Tự tháp nấc thang đỉnh bằng có tên Tazumal, một bộ phận của khu di chỉ Chalchuapa, Trung Mỹ. Các Kim Tự tháp này vẫn còn là bí ẩn với nhiều nhà nghiên cứu. 11.- Kim Tự tháp ở Guatemala: các Kim Tự tháp này được xây dựng trong khoảng 500-250 năm trước Công Nguyên,nổi tiếng có Kim Tự tháp Tikal. Các nhà nghiên cứu cho rằng Kim Tự tháp Tikal là đài quan sát thiên văn thời xưa vì khi đến thời điểm hạ chí Mặt trời mọc ở vị trí phía bắc công trình, xuân phân và thu phân ở giữa và đông chí ở phía nam. Nổi tiếng không kém là Kim Tự tháp đôi (Twin Pyramids), là hai Kim Tự tháp nấc thang đỉnh bằng bố trí theo trục Đông-Tây trên một đài cao. Hiện không còn nữa. 12.- Kim Tự tháp ở Peru: hiện phát hiện ít nhất 10 Kim Tự tháp ven bờ biển xứ này, nhưng phần lớn bị hư hại và mất ngọn, tiêu biểu là Kim Tự tháp Huallamarca. Đó là di sản của dân tộc Vicus từng có thời phồn vinh nơi vùng đất này trước khi có sự di dân của người Tây Ban Nha. Dựa vào các mẫu gốm trang trí khai quật được, các nhà khảo cổ đánh giá chúng có niên đại khoảng từ năm 200 trước Công nguyên đến năm 300 sau Công nguyên. 13.- Kim Tự tháp ở Bolivia: đất nước này nổi tiếng với Kim Tự tháp Akapana, cao 59 bộ (feets). Ban đầu người ta chỉ cho là ngọn đồi tự nhiên cho đến khi xây dựng tuyến đường sắt hồi thập niên 1900 mới khám phá ra đây là một Kim Tự tháp. Nó được xây dựng vào khoảng năm 700 sau Công nguyên và chứa đợng nơi đây nhiều dấu vết buộc các nhà khảo cổ nghiên cứu mãi đến nay chưa chấm dứt. 14.- Kim Tự tháp ở Ecuador: là phức hợp Kim Tự tháp và gò mộ ở Cochasquí, gồm khoảng 15 Kim Tự tháp gảy ngọn với vật liệu đất sét và nhiều gò mộ khác được xây dựng vào khoảng 950-1550 sau Công nguyên. Năm 1979 các Kim Tự tháp này được công nhận di sản văn hóa nhân loại. Điều bí ẩn của nhóm Kim Tự tháp này là được xây dựng ngay bên dưới đường di chuyển biểu kiến của Mặt trời dọc theo Trái đất. Phải chăng thời xa xưa người shamans đã sở hữu một kiến thức thiên văn rất cao. Các nghiên cứu cho thấy đây là quần thể dùng để tế lễ thần Mặt trời của người shamans. Hiện tục tế lễ này vẫn còn duy trì ở dân bản địa vùng này vào ngày Đông chí. 15.- Kim Tự tháp ở Mexico (Mê-hi-cô): đất nước này sở hữu một Kim Tự tháp được coi là lớn nhất thế giới: Kim Tự tháp Cholula (còn gọi là Kim Tự tháp Tlachihualtepetl), vùng Puebla. Theo nghiên cứu phức hợp Kim Tự tháp – Đền Thờ này xây dựng làm 4 giai đoạn, kéo dài từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ 9 sau Công nguyên, để người Aztez thờ thần Quetzalcoatl. Kim Tự tháp chính có đáy vuông 450×450 m và cao 66 m. 16.- Kim Tự tháp ở Bosnia: các Kim Tự tháp ở Bosnia nằm quanh khi vực đồi Visocica. Các tác giả người Bosnia đưa ra một vài chứng cứ đây là công trình nhân tạo gây chú í của quốc tế, nhưng thuyết này bị một số học giả khác phủ nhận, cho đó là hiện tượng tự nhiên. 17.- Kim Tự tháp ở Pháp: còn gọi là Kim Tự tháp Falicon vì nằm gần thành phố mang tên này. Nó được xây dựng trên một hang động đá vôi gọi là Hang dơi (the Cave of the Bats), không đều cạnh và dáng hơi nghiêng. Không ai biết rõ nó được dựng lên vì mục đích gì, chỉ ước đoán do lính Lê Dương La Mã kiến để thực hành các nghi lễ tôn giáo có gốc Ai Cập. 18.- Kim Tự tháp ở Ý: còn gọi là Kim Tự tháp Cestius, một Kim Tự tháp Ai Cập đúng nghĩa ở thành phố Rome. Nó được xây vào năm thứ 12 sau Công nguyên để làm lăng mộ cho Caius Cestius, viên Tổng trấn xứ Ai Cập của Đế chế La Mã. Kim Tự tháp này có đáy vuông cạnh 22 m, cao 27 m, xây bằng gạch ốp đá hoa cương. Gian quàn thi hài ở bên trong dài 5,95 m, rộng 4,10 m và cao 4,80 m. 19.- Kim Tự tháp ở Tây Ban Nha: còn gọi là Kim Tự tháp Guimar vì ở gần địa danh này, nằm trên đảo Spain’s Canary. Guimar là loại Kim Tự tháp có 6 bậc thang được phát hiện vào năm 1998. Trước đó cư dân trên đảo không nghĩ là Kim Tự tháp, chỉ cho đó là cột đá núi lửa. Đó là một phức hợp gồm ba Kim Tự tháp mà theo nghiên cứu chịu ảnh hưởng của Kim Tự tháp châu Mỹ, do Colombo du nhập về sau khi đi đến lục địa này. 20.- Kim Tự tháp dưới đại dương: đây là một trong những ly kỳ thú vị về đề tài Kim Tự tháp. Năm 1995, nhà thám hiểm biển người Nhật, Kihachirou Aratake, tình cờ khám phá một số cấu trúc kiến tạo của con người ở ngoài khơi đảo Yonaguni. Chúng chưa từng được giới khảo cổ nói đến và chẳng có thư tịch gì. Ít lâu sau một đoàn nghiên cứu khoa học của trường Đại học Ryukyus, do GS Misaki Kimura lãnh đạo, đến thực địa và xác nhận đó là những kiến trúc kiểu Kim Tự tháp của Ai cập, vùng Lưỡng Hà hay ở Trung – Nam Mỹ. Nhiều phân tích cho thấy chúng có niên đại khoảng 8.000 năm, tương ứng với thời kỳ xây dựng Kim Tự tháp ở Ai Cập. Cũng chính niên đại này đã gây nhiều tranh cãi trong giới sử học và khảo cổ học. Nhưng dù thế nào, chẳng ai chối cãi được nơi đáy đại dương đó từng có một nền văn minh cao mà loài người chưa từng biết đến. Người ta cũng hay nói đến Kim Tự tháp Walsh ở Châu Úc, nhưng nó không là công trình kiến trúc mà là Kim Tự tháp tự nhiên. Nói khác đi chỉ là ngọn núi có hình Kim Tự tháp cao 922 m. (Nguồn: Đức Chính - Khanhhoathuynga"s collection)

Uẩn khúc cuộc đời nữ hoàng sắc đẹp Ai Cập cổ đại


Uẩn khúc cuộc đời nữ hoàng sắc đẹp Ai Cập cổ đại

Trong thời kỳ đầu cai trị, để bù đắp cho những gì vua Akhenaten gây ra, Nữ hoàng Nefertari đã đưa ra quy định, cho phép người Ai Cập thờ phụng các vị thần khác như cũ nhưng đã quá muộn. Nhiều kẻ thù luôn nhăm nhe hạ bệ bà và tìm cách ám sát vị nữ hoàng quyền lực.

Xã hội Ai Cập cổ đại thường quan niệm, phụ nữ không bao giờ được nắm quyền hành trong gia đình, đặc biệt là trong hoàng gia. Việc trở thành người đứng đầu của một quốc gia lại càng là một điều khó chấp nhận đối với phụ nữ. Tuy nhiên, xã hội Ai Cập cổ đại vẫn có những nữ hoàng tài sắc vẹn toàn, một tay gây dựng đất nước như Nữ hoàng Cleopatra nổi tiếng. Và có lẽ, vị Pharaoh nổi tiếng nhất Ai Cập về nhan sắc và quyền lực lại là nữ hoàng Nefertari.
Nữ hoàng Nefertari nổi tiếng với vũ điệu mặt trời làm mê đắm bao người
Nữ thần sắc đẹp
Nefertari là một người đàn bà đẹp nhất trong lịch sử Ai Cập có lẽ vì tên của bà có nghĩa là “Người đẹp đã đến”. Người dân thời đó tin rằng nếu thần Mặt Trời xem màn múa thoát y nổi tiếng trong lịch sử của bà, một phần quan trọng trong hoạt động thường nhật, thì ngài sẽ đối xử biệt đãi hơn với thần dân Ai Cập. Và đó đã trở thành sứ mệnh của Nefertari. Lịch trình “làm việc” một ngày của nữ hoàng luôn bắt đầu với điệu nhảy dành cho Thần mặt trời. Với sắc đẹp của mình, đây là sứ mệnh cao cả được giao cho nữ hoàng Nefertiti. Người ta tin rằng, nếu Thần mặt trời ngây ngất trước điệu nhảy đầy tinh tế của nữ hoàng, ngài ắt hẳn sẽ đối xử tử tế với người dân Ai Cập.
Bi kịch cuộc đời bà bắt đầu khi Nefertari kết hôn với Akhenaten vào năm trị vì thứ 2 của ông, khoảng 1.350 trước Công nguyên (TCN). Bằng sắc đẹp của mình bà đã làm cho Akhenaten mê muội và phải thực hiện mọi yêu cầu của bà. Nefertiti được tôn vinh làm Nữ thần bảo hộ nhà vua thay thế các vị thần Isis, Nephthys, Selket và Neith trong tín ngưỡng cổ Ai Cập.
Bức tượng bán thân có niên đại 3.300 năm tuổi của Nữ hoàng Nefertari, được tạo tác với chiếc mũi chim ưng và xương gò má cao của bà đã khiến cho những người hâm mộ sắc đẹp trên thế giới phải lên cơn “sốt” thực sự. Vị nữ hoàng được xem là “huyền thoại sắc đẹp sông Nile” là nguồn cảm hứng cho rất nhiều nghệ sĩ thời kỳ đó. Các bức tượng bán thân được tạc theo nguyên mẫu của bà một cách sống động và cũng là mục đích tìm hiểu của các nhà sử học, theo đuổi một hình mẫu đẹp đến kỳ lạ này. Sắc đẹp của nữ hoàng Nefertari đã làm điên đảo các bậc vương công quý tử. Họ sẵn sàng từ bỏ tất cả để chạy theo nữ hoàng sắc đẹp. Có những người chỉ cần nhìn thấy bà một lần là mãn nguyện và không nuối tiếc.
Nữ hoàng thường bôi nước hoa ngào ngạt lên khắp cơ thể để tạo mùi hương quyến rũ của riêng mình và đeo bộ tóc giả tạo uy quyền. Giống như mọi phụ nữ khác thời đó, Nefertari cũng cạo sạch tóc để được mát hơn và tránh chấy rận. Bà thường hay đội bộ tóc giả Nubian, cắt cao ở đằng sau cổ và rủ xuống tạo thành các dải phía trước che phủ khuôn mặt. Bằng phong cách trang điểm, trang sức và trang phục hấp dẫn của mình, “Người đàn bà mỹ lệ” đã mê hoặc được vua Akhenaten.
Nữ hoàng quyền lực
Do quá mê mẩn nhan sắc của nữ hoàng Nefertari, vua Akhenaten đã không màng đến triều chính, chỉ muốn chiêm ngưỡng và sở hữu “Người đẹp sông Nile”. Nhà vua đã trao toàn bộ quyền lực cho nữ hoàng Nefertiti nắm giữ. Dựa vào quyền lực sẵn có, nữ hoàng đã lập nên một loại hình tôn giáo mới nhằm tôn vinh vị thần Aten hay còn gọi là thần Mặt trời, vị thần cao nhất trong tất cả các vị thần. Điều này đã khiến các thầy tu vốn sùng bái thần Amen bất bình và nổi giận. Họ đã đến gặp vua Akhenaten, cầu xin người hãy suy nghĩ lại và thu lại luật lệ tôn giáo mới. Khi đó, Akhenaten đã nghe lời nữ hoàng của mình, đóng cửa các ngôi đền của họ, không cho thờ phụng và tổ chức các nghi lễ tôn giáo lâu đời. Cũng từ đây, triều đại của Akhenaten bắt đầu đi xuống, vua Akhenaten không còn được lòng dân trong suốt thời gian cai trị về sau.
Lo ngại bị ám sát, vua Akhenaten và nữ hoàng Nefertari đã lấy hết những đồ đạc quý giá từ các ngôi đền bị đóng cửa, xây dựng một thành phố mới nguy nga, tráng lệ, đặt tên là Amarna. Thành phố mới được một đội quân tinh nhuệ của hoàng gia bảo vệ chặt chẽ. Tại đây, Akhenaten và Nefertari sống trong sự sung sướng, giàu sang, bỏ mặc người dân đói khổ và than khóc. Với tư cách là chính cung hoàng hậu, Nefertari phải sinh hạ cho đức vua một hoàng tử để thừa kế ngôi báu, nhưng trong suốt 12 năm chung sống, bà đã sinh tất cả 7 người con nhưng tất cả đều là con gái. Điều này khiến vua Akhenaten thất vọng và tìm đến người vợ khác tên là Kiya. Và người vợ này đã hạ sinh cho vua Akhenaten một hoàng tử tên là Tutankhamen và sau này chính là vị pharaoh nổi tiếng nhất Ai Cập: Vua Tut.
Đến năm 1336 TCN, vua Akhenaten qua đời, khi đó, triều đại Akhenaten đã suy tàn. Nữ hoàng Nefertiti lên ngôi, cùng nhiếp chính với vị vua kế nhiệm và từ đây, quyền lực của bà mạnh hơn bao giờ hết. Nefertiti trở thành pharaoh Nefemeruaten, có ý nghĩa là “Người đàn bà mỹ lệ của Vầng hào quang sáng chói Aten”. Ai Cập nằm hoàn toàn trong tay nữ hoàng sắc đẹp Nefertari. Trong thời kỳ đầu cai trị, để bù đắp cho những gì vua Akhenaten gây ra, Nữ hoàng Nefertari đã đưa ra quy định, cho phép người Ai Cập thờ phụng các vị thần khác như cũ nhưng đã quá muộn. Nhiều kẻ thù luôn nhăm nhe hạ bệ bà và tìm cách ám sát vị nữ hoàng quyền lực, muốn thống trị giang sơn này.
Cũng vào thời điểm này, nữ hoàng Ai Cập đã biến mất một cách bí ẩn. Nhiều nhà sử học đặt giả thiết, nữ hoàng cùng con gái và con rể đã rời bỏ hoàng cung đến lánh ở một vùng làng quê xa xôi nào đó hoặc cũng có thể bà đã bị ám sát trên đường chạy trốn. Và xác ướp của nữ hoàng đã trả lời cho tất cả những thắc mắc đặt ra của các nhà sử học. Khi các nhà khảo cổ tìm thấy xác ướp của nữ hoàng, họ rất ngạc nhiên khi nhận ra đây là xác ướp một cơ thể đầy thương tật và biến dạng với những nhát cắt ở ngực, cổ, tay, chân. Bàn chân của xác ướp đã bị tháo rời, cánh tay phải bị rách, ngực và cổ thì bị rạch nát bởi một vũ khí cùn, kèm theo đó là một vết đâm ở dưới ngực trái. Cánh tay trái cũng bị gãy, có vẻ như chủ nhân đã phải tự vệ trước một lưỡi dao sắc. Đội nghiên cứu nhận định, nữ hoàng đã bị những kẻ thờ đa thần trả thù.
Một lời đồn còn tồn tại đến ngày nay, lan truyền trong dân chúng Ai Cập. Nữ hoàng đã dùng bùa mê để yểm lên chồng mình là Pharaoh Akhenaten để nắm giữ quyền lực thực sự sau ngai vàng. Bà sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn tàn độc nhất để loại bỏ những người đàn bà là tình địch của mình. Có người cho rằng, bà đã hạ sát Kiya, một người vợ khác của vua Akhenaten vì đã hạ sinh hoàng tử, điều mà bà không làm được. Việc này khiến bà mất đi niềm tin của nhà vua và dân chúng dành cho bà.
Ngày nay, nữ hoàng Nefertari vẫn có sức mạnh thu hút ánh nhìn. Bức tượng bán thân nổi tiếng của bà được tìm thấy tại Ai Cập năm 1912 và đang được trưng bày ở bảo tàng Berlin (Đức). Bức tượng là một gương mặt khả ái, trên đầu đội chiếc vương miện độc đáo, chiếc cổ thuôn dài, vươn cao kiêu hãnh, cùng nụ cười bí ẩn hiện trên đôi môi thắm đỏ. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của các nhà khoa học, sắc đẹp của nữ hoàng Nefertiti có được là nhờ một loại chất tương tự botox thời hiện đại (chất làm trẻ hóa làn da, mất nếp nhăn) để nâng cánh mũi của mình và che đi các nếp nhăn nơi đuôi mắt, quanh khóe miệng. Từ đây, các nhà khoa học đã thay đổi hẳn khái niệm về cái đẹp thời xa xưa.
Hồng Nhung

Phát hiện mới về thuật ướp xác Ai Cập


Phát hiện mới về thuật ướp xác Ai Cập

Trái với các ghi chép của sử gia Hy Lạp nổi tiếng Herodotus, người Ai Cập cổ xưa có thể đã không dùng dầu tuyết tùng loại bỏ ruột của xác ướp, theo một nghiên cứu mới về thuật ướp xác.
Nhóm nghiên cứu còn phát hiện, các thợ ướp xác cổ xưa không phải lúc nào cũng giữ nguyên trạng trái tim bên trong cơ thể người chết. Các khám phá trên được rút ra từ việc nghiên cứu 150 xác ướp từ thế giới cổ đại.
Kết quả chụp cắt lớp và tái dựng hình ảnh 3D cho thấy khoang bên trong cơ thể trống rỗng của
xác ướp ROM910.5.3 ở Bảo tàng Hoàng gia Ontari, Canada
Vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, sử gia Herodotus từng có nhiều trang viết hé lộ quá trình ướp xác của người Ai Cập. Thời Ai Cập cổ, ướp xác từng là một nghề mang tính cạnh tranh và các bí quyết hành nghề luôn được giữ kín, Andrew Wade – đồng tác giả nghiên cứu mới và là nhà nhân chủng học đến từ trường Đại học Tây Ontario (Canada) nói.
Sử gia Herodotus đã mô tả nhiều mức độ của việc ướp xác: Theo ông, đối với giới thượng lưu, nội tạng sẽ được rút bỏ thông qua một khe mở ở bụng xác ướp. Đối với tầng lớp thấp hơn, nội tạng trong các xác ướp sẽ bị dầu tuyết tùng bơm vào ăn mòn (dầu tuyết tùng được tin là có tác dụng tương tự nhựa thông).
Ngoài ra, ông Herodotus khẳng định, não cũng được rút bỏ trong quá trình ướp xác và trái tim của người chết luôn được giữ nguyên trạng.
Để xác thực cách thức moi ruột xác ướp, nhà nghiên cứu Wade và cộng sự đã đọc tài liệu để tìm hiểu các chi tiết về cách thức tạo ra 150 xác ướp trong suốt hàng ngàn năng lịch sử của Ai Cập cổ. Họ cũng tiến hành chụp cắt lớp và tái dựng hình ảnh 3D của 7 xác ướp trong số đó.
Nhóm nghiên cứu nhận thấy, dù là xác ướp của người giàu hay người nghèo, tất cả đều được moi nội tạng qua khe bụng, mặc dù quá trình này đối với thi thể của tầng lớp thượng lưu đôi khi được thực hiện nhờ một khe qua hậu môn.
Thêm vào đó, không có nhiều bằng chứng cho thấy việc moi nội tạng của xác ướp có sử dụng dầu tuyết tùng.
Hơn thế nữa, chỉ có ¼ số xác ướp được giữ nguyên trạng trái tim. Việc loại bỏ trái tim dường như trùng hợp với thời kỳ chuyển giao, khi tầng lớp trung lưu bắt đầu tiếp cận với việc ướp xác.
“Tầng lớp thượng lưu cần cách nào đó để phân biệt họ với những người nằm dưới sự cai trị của họ”, ông Wade nhận định.
Trong khi sử gia Herodotus viết rằng các xác ướp bị loại bỏ não, ông Wade và các cộng sự lại phát hiện có tới 1/5 số xác ướp vẫn còn não trong hộp sọ. Gần như tất cả số xác ướp khác được rút bỏ não qua lỗ mũi.
Sau quá trình moi nội tạng, thi thể của người chết được xoa rửa bằng một chất khử trùng nhẹ như rượu cọ. Nó cũng được bọc trong túi natron – một loại muối tự nhiên, được để khô trong nhiều ngày, rồi đóng gói bằng vải lanh hoặc vỏ gỗ và đôi khi ướp thơm bằng những đồ vật tỏa hương.
Theo David Hunt – nhà nhân chủng học thuộc Viện Smithsonia ở Washington (Mỹ), kết quả nghiên cứu mới đã cho thấy sự đa dạng trong kỹ thuật ướp xác ở thế giới cổ xưa. Ông nhấn mạnh: “Nhiều người cho rằng quá trình ướp xác là như nhau, nhưng trong gần 3.000 lịch sử, câu trả lời không phải vậy. Chúng ta đã biết, người ở Sudan có cách tiến hành không như người ở Alexandria”.
Theo VNN